HoToc.Vn
Quản lý gia phả và các hoạt động họ tộc - dòng họ, hiệu quả, dễ sử dụng

PHẢ LÀNG Ô LỮ

Hà Nam Ninh đăng lúc 30/04/2025 09:05. xem:541

TÀI LIỆU LƯU TRỮ THÔN Ô LỮ

PHÚC LÂM TỰ - PHÚC LINH TỪ

PHÚC LINH ĐIỆN

 

 

PHẢ LÀNG

THẦN PHẢ SẮC PHONG CÁC TRIỀU ĐẠI

CÁC LINH TÍCH TỪ KHI CÓ LÀNG ĐẾN NGÀY NAY

Sưu tầm lưu trữ

 

Người sưu tầm: Ngô Xung Kỳ

Pháp danh: Minh Thông


LỜI NÓI ĐẦU

Tôi là Ngô Xung Kỳ, sinh năm 1931. Là hậu duệ tôn đời thứ 13 Ngô Tộc. Tôi sinh ra là con một nhà bần nông, là con út thứ 6 của gia đình. Bố mẹ tôi chỉ có cầy thuê cuốc mướn của nhà giàu, và chăn nuôi gia súc.

Tôi được bố mẹ cho học chữ thày đồ làng, cả chữ Nho và chữ Quốc ngữ.

Là con út nên tôi hay được bố cho đi dự các hội hè trong làng, cúng các vị huynh trưởng đàm luận việc việc làng, truyện cổ tích của làng và cũng có tâm huyết từ nhỏ, hay hỏi các sự cố của làng. Đồng thời tôi cũng được xem phả làng xưa còn đầy đủ, phả họ cũng còn đầy đủ. Nhưng kháng chiến chống Pháp đã đốt phá mất hết.

Hôm nay, vào tháng 8 năm Ất Mùi, tức tháng 9 năm 2015, là năm thứ 29 tôi ở đình, chùa, phủ, là thủ nhang cả ba nơi. Theo nguyên vọng của một số gia đình làm ăn nơi xa xôi muốn hiểu biết về cội nguồn của làng: Làng có từ bao giờ? Có bao nhiêu năm, bao nhiêu Họ? đến nay bao nhiêu đời? Và sự biến chuyển từ khi có làng đến nay? Các thổ hình, linh tích của làng ra sao? Vậy tôi cố gắng sưu tầm các tài liệu có cộng với trí nhớ về phả làng, phả họ xưa cùng với mọi người có tâm huyết cùng tôi có những điều được biết cùng nhau viết nên cuốn phả làng này.

Dẫu sao thì cũng không thể chính xác hết được, nhưng dù sao cũng còn hơn không còn một tý nào về sự tích của làng. Mong mọi người thông cảm. Đây là tâm huyết của tôi.

Trong khi tôi viết đã có người nói: Ai mượn viết mà ông viết? Tôi không tự ái mà vẫn cứ sưu tầm, vẫn cứ viết cho thành chính quả và cũng cảm ơm mọi người đã đồng tình với sự việc này.

Ô Lữ, ngày 15 tháng 8 năm Ất Mùi (tức ngày 27 tháng 9 năm 2015)

Người viết: Ngô Xung Kỳ

Pháp tự: Minh Thông


Phần 1: Điển tích tên làng

Làng Lựa sát vườn Lựa, làng Lứa, Ô Mễ Hạ, Ô Lữ là ngày nay.

Trước tiên nói đến địa dư hành chính của làng bây giờ. Làng thuộc xã Đồng Du và ở cuối xã. Tây nam giáp xã Đồn Xá, Đông giáp sông Sắt và thôn Bình, Bắc giáp thôn Phùng cùng xã. Đường bê tông liên xã qua làng vào Bình Lục. Từ bắc xã sang nam Đồn Xá phủ mẫu Đình Chùa cũng giáp con đường này.

Trong làng chia ra làm 4 xóm, có con đường xuyên tâm từ đình chùa lên thẳng sông Sắt. Một đường từ giữa xóm Đông Kiều chia đôi xóm ra gặp nhau giữa trung tâm, qua xóm Nam Tịnh chia đôi đi Tây làng gặp đường liên xã, ra đồng lăng nghĩa trang làng.

Trung tâm có khu đất trước kia là trụ sở của làng nơi họp dân, ngoài ra còn có một giếng nước ăn nay làm cảnh, có một nhà văn hóa sinh hoạt các đoàn thể, có tủ sách.

Ngày xưa làng có phả làng, các họ có phả họ. Nhưng vì giặc Pháp bỏ bom đốt phá cháy hết. May họ nào có tâm huyết mang đi tản cư thì còn phả họ. Hơn nữa cũng chẳng có mấy người quan tâm đến việc này. Đến nay còn một quyển chép tay bằng chữ Nho nhưng chủ yếu viết về đình chùa, phủ mẫu, lễ bái là chính.

Sau đây tôi lược dịch theo phả làng xưa tôi được biết truyền lại làng ta xưa ở đất vườn Lựa sau này gọi là làng Lứa.

Đầu tiên là họ Lã ở trước nên mới gọi là Lã thôn. Trước thời Liễu Thăng Trung Quốc sang lần thứ hai (năm 1420) thì họ Ngô, họ Lưu đến ở tiếp cũng ở đất vườn Lựa (gọi thời đó là thời Ngô, thời phá tám).

Chứng minh họ Lã đến trước là có một giếng nước ăn họ Lã sử dụng mãi thời hợp tác xã mới mất (nó là một trong 9 cái giếng của làng).

  Khi Tàu sang xâm chiếm nước ta, hai ông tổ họ Ngô và họ Lưu người Tàu để mỗi họ hai người con ở lại, ống bố về Tàu. Chứng minh họ Lưu hai cụ đó là cụ Liễu Thanh, Liễu Ngu. Còn họ Ngô có hai con là Ngô Trung Nghị ở lại làng còn con thứ hai là Ngô Kim Thanh xuống ở làng Bình.

(Phải chăng Ngô Kim Soạn và Ngô Xung Kỳ cùng một gia tộc?)

Tóm lại làng ta xưa ở đất vườn Lựa chỉ có ba họ Lã, Ngô, Lưu.

Vườn Lựa địa dư xưa như sau: Giếng nước ăn ở giữa ba con đường, một đường đi ra tây nam gọi là đường Cận. Một đường từ giếng nước lên sông Sắt bây giờ gọi là đường Mãng (nó ngoằn ngoèo như con mãng xà). Một đường đi ra hai cây đa đôi đi vào làng bây giờ gọi là đường Đỗi. Đường Đông đắp trước khi về làng mới bây giờ.

Thời vua Lê Cảnh Hưng năm thứ 15, họ Ngô đời thứ tư có cụ làm quan, có con gái xinh đẹp được tuyển vào nuôi con vua, sau được sắc phong quận chúa. Có hai đạo sắc phong còn lưu trữ tại Đình làng.

Theo các cụ kể lại, trung tâm vườn Lựa xưa có con đường vườn Lựa cụt chỉ đến đống Nam mô là hết. Nhưng xét theo phong thủy làm ăn không thịnh vượng, nên đời thứ năm của Ngô tộc có cháu của quận chúa tên Ngô Phú Giao được phong thượng tướng tả đô đốc coi tứ thành vương phủ, trấn sở Nghệ An, Thanh Hóa, Lạng Sơn làm quan bản hương. Ông xem phong thủy chỗ ở vườn Lựa không đẹp, thứ hai xem phong thủy chỗ ở bây giờ là nơi đắc địa nên mới bàn chuyển làng về nơi ở mới, là nơi ta đang ở bây giờ.

Nói về lập làng mới, đầu tiên chuyển về chỉ có ba họ là Lã, Ngô, Lưu. Địa dư của ba họ phân thành ba khu như sau:

Họ Ngô từ chỗ nhà cụ Lý Hai bây giờ (năm 2015) cho đến hết xóm Đông Kiều. Họ Lã từ chỗ nhà ông Vị bây giờ cho đến hết nhà bà Hóa bây giờ. Họ Lưu bên phía nhà Thịnh Đông hết khu bên Tây. Còn các họ sau này tiếp tục chuyển cư đến ở xen kẽ thành 13 họ.

Sau lập làng chia đường xá ra như sau: Chia ra 4 xóm có hai con đường giao nhau xuyên tâm. Đường thứ nhất từ đường cái vòng qua đình chùa lên làng cũ vườn Lựa. Một đường từ bắc làng ra gặp nhau ở trung tâm qua xóm nam đi ra con đường cái từ cái võng vào Bình Lục. Xong trong bấy giờ là xóm Thọ Xương, xóm Cầu là xóm Đông Kiều, xóm ngoài là xóm Nam Tịnh, xóm Chùa là xóm Tây Tự.

Nhà thờ họ Ngô chính thức bây giờ có từ khi lập làng. Nhà thờ họ Lã trước ở chỗ nhà Thường Đăng bây giờ. Nhà thờ họ Lưu trước ở chỗ nhà Thinh Đòng sau đó các cụ chuyển ra xóm ngoài như bây giờ. Nhà thờ họ Nguyễn chỗ bây giờ. Nhà thờ họ Lê trên đất cụ ngoại họ Lưu cho. Nhà thờ họ Đoàn mua đất của cụ họ Ngô. Nhà thờ họ Đặng xưa chỗ ở nhà Hùng Nho bây giờ. Nhà thờ họ Vũ trước ở chỗ nhà Ba Tạo bây giờ. Nhà thờ họ Trần chỗ bây giờ. Nhà thờ họ Hà chỗ bây giờ. Trước đây bà cụ trưởng bầu họ Dương ở chỗ Gắng ở bây giờ. Họ Hoàng chỗ nhà bà Đắc ở bây giờ. Họ Phúc chỗ nhà Phúc Sơn ở bây giờ.

Trước kia 13 họ chia ra làm 4 phe ao. Phe Ngô cửa Hùng Sơn ở bây giờ. Phe Đông Bình một phần nhà ông Ánh lấp, một phần con Thường Đăng lấp ở. Phe Đông Đạo đất Huy Thao ở, ao phe Chinh nay là ao nhà văn hóa bây giờ.

Về linh địa: cả làng có 9 cái giếng tròn. Nay tư nhân lấp làm nhà ở chỉ còn một giếng đình.

Nói về Đình, Chùa, Phủ mẫu bây giờ: Trước kia ở vườn Lựa chỉ có Đình nhỏ. Khi chuyển về làng mới bây giờ, các cụ định làm ở chỗ mả Mái, đã dự định nên gọi là ruộng nền đình. Nhưng không đắc địa. Nay vẫn có 5 miếng ruộng cao có cây đa ở giữa ruộng. Nơi đây, xưa kia hàng năm làm lễ hạ điền động thổ, sau đó dân mới được cấy. Số thửa đó thời Pháp là số bản đồ 1628 bản đồ số 9. Sau khi nghiên cứu chỗ Đình chùa bây giờ đã đắc địa, nên các cụ làm Đình trước quay mặt về tây nhìn lên đống Nấm, Đồng Du Ngoại. Chùa cùng hướng nhưng lùi về sau một chút. Sau đến Nghè thờ đức Tiên cung Ngọc Nữ chỗ đài liệt sỹ bây giờ. Tương truyền, cụ thượng tướng họ Ngô chở gỗ cho nhà vua bị vỡ bè nên khấn đức Tiên cung Ngọc Nữ giúp. Được Ngài giúp sau thu lại đầy đủ gỗ. Nhớ ơn Ngài liền về lập Nghè thờ ở quê hương. Có hai đạo sắc phong còn lưu giữ tại Đình làng. Ở móng Đình cũ, khi làm lại Chùa, khai thác móng cũ vẫn còn. Giữa phủ mẫu với đình chùa có một rạch nước, có cống từ ao sen qua đường, chỉ đến ruộng Chùa là hết.

Ba ngôi thờ trước đều quay hướng tây, sau các cụ chuyển quay hướng nam, vì hướng tây nghịch hướng.

Năm Định Tỵ (1917), chuyển Nghè thờ Mẫu qua rạch Đình về thờ Mẫu bây giờ. Khi chuyển phải lót rơm ở rạch Đình để khênh qua và cũng quay hướng nam Phủ Mẫu làm lên cái bầu đàn tỳ bà rất thiêng.

Về địa lý, Đình và Chùa làm lên lưng con rùa vàng (Kim tinh hiền Thánh). Sau lưng Chùa có đống quản bút nghiên trên lò gạch giáp Cao Cái. Nghiên bút xa nhau, nên công danh văn của làng kém. Trước cửa đình chùa có ao sen, có ba đống tam thai làm án. Xa xa có 9 đống con cá chầu về cống lăng. Đình, Chùa, Phủ Mẫu nhìn thẳng ra cống lăng.

Linh địa này: Tả Thanh Long có con đường từ đình qua làng lên vườn Lựa. Hữu Bạch Hổ có con đường mở ra đến địa giới Thanh Khê. Long dài Hổ ngắn đắc địa. Trong quần thể Đình Chùa, xưa có văn chỉ thờ Khổng Tử dạy chữ. Thờ Phụng Hy Thần Nông dạy cày cấy. Trước đây có nhà tổ bằng gỗ lợp rạ, sau bị hợp tác xã Quyết Thắng dùng làm lán gạch mất.

(Theo cháu, thì nên bỏ thờ Khổng Tử, mà nên thờ Petrus Trương Vĩnh Ký. Petrus Trương Vĩnh Ký là người có công lớn nhất trong việc phổ biến chữ quốc ngữ. Vì thế mà ngày nay 90 triệu dân ai cũng biết đọc biết viết. Chứ mà còn dùng chữ Nho của Khổng Tử thì dân vẫn còn mù chữ. Vậy công lao của Petrus Trương Vĩnh Ký lại chẳng bằng trăm vạn lần Khổng Tử sao?

Cũng nên bỏ thờ Phục Hy Thần Nông. Vua Thần Nông cách đây 4000 năm đã dạy dân Hán ở lưu vực sông Hoàng Hà cách trồng đại mạch lấy lương thực. Trong khi dân Việt thì trồng lúa nước, chẳng liên quan gì đến cái nghề mà Thần Nông dạy. Chẳng biết Tổ nghề lúa nước là ai. Dân Trung Quốc bây giờ trồng lúa nước cũng là do học từ người Việt. Nếu biết Tổ nghề lúa nước là ai thì nên thờ vị đó. Tuy nhiên có một vị không phải Tổ nghề lúa nước, nhưng xứng được thờ hơn Thần Nông, là Kim Ngọc. Năm 1966 ông Kim Ngọc khoán ruộng cho dân. Vì vậy mà bị đảng bắt bỏ tù. Nghe nói ông tự tử chết trong tù năm 1979. Người ta thấy ông dùng máu viết lên tường "Tôi có tội hay không để nhân dân phán xét". Mãi đến năm 1986 đảng mới công nhận ông Kim Ngọc đã đúng bằng luật Khoán 10. Ông Kim Ngọc cứu đói cho toàn dân lại chẳng xứng hơn Thần Nông hay sao?)

Bên Phủ Mẫu có 5 gian tảo sá để sửa lễ, có đất cho ông Đồng làm nhà cả vợ con ở. Phía ngoài Phủ Mẫu có đất cho chú Mõ làm nhà cả vợ con ở.

Đình, Chùa, Phủ Mẫu, trước có nhiều cây đa to cao, gốc tới tám chín người ôm mới xuể. Đứng từ Bình Lục đã trông thấy cây đa làng. Thời chống Pháp, năm 1948, chặt nốt cây cuối cùng đổ nằm theo đường từ ao sen đến chỗ đất bà Loan bây giờ.

Điển tích về Đình, Chùa, còn có một sự tích đặc biệt. Đó là "năm vua Tự Đức sát Gia-Tô". Năm đó đạo Gia-Tô định về làng ta, làm nhà thờ lớn nhất tỉnh Hà Nam, vì cho đây là đất địa linh. Nhưng các cụ họ Ngô phản đối không cho làm, vì trong làng có người dắt đạo về. Đạo Gia-Tô khủng bố các cụ họ Ngô phải sơ tán xuống Hòa Trung. Lý do các cụ họ Ngô phản đối là vì cụ Ngô tướng công đem gỗ về làm Đình, Chùa cùng dân làng. Nếu đạo Gia-Tô làm nhà thờ thì sẽ phá hết. Cụ Ngô Đình Liễu làm Lý trưởng đứng đầu tiếc công của tiền nhân nên cố giữ Đình, Chùa lại. Pháp bắt cụ đi đày ở Hồng Gai đến nay mất mộ không tìm được.

Trải qua bao thời đại đến nay làng ta đã có hơn 500 năm, địa dư hình thành trước nhỏ sau phát triển rộng ra vì dân số tăng. Ngoài ra cũng còn một số dân trong làng đi các nơi làm ăn. Nếu cộng lại số dân đó còn nhiều hơn dân số ở lại làng.

Ruộng nương thước tư điền, thời Pháp thuộc có 300 mẫu ruộng. Sau vì hai làng kỳ hào, kỳ mục Cao Cái - Ô Lữ bán địa bạ cho nhau mất 50 mẫu còn 250 mẫu.

Địa dư hành chính cấp xã như sau: (1) Khi chuyển từ vườn Lựa về lập làng mới, từ thôn ông Lã hợp với hai thôn Phùng, Bình, và thôn Ô Mễ thành xã Ô Mễ. Xã Ô Mễ có 4 thôn. (2) Đến thời Pháp thuộc, làng Nội bây giờ do Pháp cho phép họ xen vào giữa Ô Mễ với ba làng dưới thành ra Ô Mễ Thượng, Ô Mễ Hạ. Hàng năm tối ba mươi Tết, 4 làng tế Đình hàng xã ở Ô Mễ thượng. (3) Đến thời kháng chiến chống Pháp họ lập thành xã Đồng Du gồm có 8 thôn: Ô Mễ, thôn Trung, thôn Nội, thôn Ngoại, An Bài, Phùng, Bình, Ô Lữ. (4) Cải cách ruộng đất, Ô Mễ chuyển về xã Tràng An. Xã Đồng Du chỉ còn 7 thôn.

Kháng chiến chống Pháp, làng ta là làng có nhiều thành tích nhất: Ủng hộ quỹ kháng chiến; Mùa đông chiến sỹ; Hũ gạo nuôi quân; Đỡ đần bộ đội nuôi cả vợ con bộ đội.

Đến khi giặc Pháp về đóng đồn bốt, dân ta rào làng kháng chiến, diệt tề trừ gian, cất giấu cán bộ, là nơi trung chuyển quân từ Thái Bình vào khu tư. Làng ta là nơi trú chân của các đoàn quân sự khu ba và khu bốn.

(Theo cháu, thì nên bỏ 2 đoạn thành tích kháng chiến này đi. Vì nó chẳng có gì cụ thể. Và vì nhỡ đâu sau này con cháu nó đọc nó lại ghét. Nhất là cái câu "nuôi dấu cán bộ". Nuôi dấu chúng nó, để rồi chúng nó quay lại vô ơn với dân với nước. Lúc còn kháng chiến, chỉ có địa chủ mới có đủ cơm gạo để nuôi dấu cán bộ, dân đen lấy gì mà nuôi dấu, ăn cháo cầm hơi. Kháng chiến chống Pháp thành công, đến cải cách ruộng đất, bao nhiêu địa chủ kháng chiến bị chúng nó giết sạch.)

Từ năm 1951 đến 1953, giặc Pháp bắn phá tàn sát làng ta, xe cóc đại bác bắn hàng nghìn, hàng vạn quả đại bác vào làng. Khi vào được làng, còn nhà nào chúng đốt hết bằng địa. Chúng còn bỏ 27 quả bom tấn đến nay vết bom đó vẫn còn. Trận này dân làng chết mất 8 người, có nhà chết cả ba bà cháu. (Điểm này có tài liệu riêng về thành tích của thôn ta).

(Đoạn này cũng nên bỏ, vì nó phi thực tế, Pháp lại dùng một lượng đạn bom nhiều như vậy để giết có 8 mạng người? Nếu để san phẳng cái làng Ô Lữ ngày nay thì chỉ 3 quả bom tấn mà thôi.)

 

Đến nay trong làng quá khứ và hiện tại có 14 họ.

1.        Họ Lã

2.        Họ Ngô: đến làng từ năm Lê Cảnh Hưng thứ 15, cụ tổ họ Ngô bây giờ là cụ Ngô Trung Nghị, cụ bà Mô Thị Ngọc, truyền đến nay là 17 đời.

3.        Họ Lưu: đến làng từ cùng thời họ Ngô.

4.        Họ Nguyễn

5.        Họ Trần

6.        Họ Đặng

7.        Họ Vũ

8.        Họ Lê

9.        Họ Dương

10.    Họ Hà

11.    Họ Đoàn

12.    Họ Trịnh: mới nhập Trịnh Văn Hùng.

13.    Họ Hoàng: đi lưu vong nay chỉ còn con cháu Hoàng Tiềm ở Hải Phòng.

14.    Họ Đỗ: nội ngoại đều tuyệt tự. Truyền rằng các cụ họ Đỗ làm quan to lắm, tứ bát trụ triều đình sắc phong nhưng con cháu để mất chẳng còn gì để lại.


Phần 2. Linh tích Đình, Chùa

Đình, Chùa làng trước khi chống Pháp rất nguy nga, đều cùng một hướng. Có hai cỗ kiệu bát công và song hành tàn tán lọng binh khí, bát biểu, kiếm cờ, giáo mác, hoành phi câu đối cột nào cũng có, xà nào cũng có, áo bào áo nậu để đi rước kiệu. Sau đều phá hoại hết cả.

Thời chiến, Đình làm nơi bộ đội để quân dược, quân lương. Hợp tác xã dùng Đình làm kho tàng, trường học. Tảo sá văn chỉ bị phá đem chia cho các nhà bị giặc tàn phá. Nhà tổ đem làm lán gạch hợp tác xã Quyết Thắng tan nát hết. Đất chùa đào lên đóng gạch kiến thiết sân hợp tác xã, tàn hại hư hỏng chẳng sửa chữa gì. Đến năm Mậu Thìn (1988), dân làng thực sự xót xa mới sửa lại Đình, Chùa, Phủ ba nơi mới được khôi phục lại cho đến ngày nay.

Di tích Đình, Chùa, Phủ còn lại đến hiện tại có 16 đạo sắc của thành thần được các triều đại phong tặng. Các đạo sắc phong này được ông Ngô Xung Kỳ, thủ nhang, gìn giữ đã 30 năm. Giờ đây đã bỏ vào két sắt để bảo tồn.

Nội dung các đạo sắc phong như sau: (do ông Ngô Xung Kỳ dịch)

1.        Đông Bảng đại vương:

a.   Sắc phong Cảnh Hưng năm thứ 25 ngày 21 tháng 10.

b.   Duy Tân năm thứ 5 ngày 8 tháng 6.

c.   Khải Định năm thứ 9 ngày 25 tháng 7.

Lã Thượng Đẳng Thần.

 

2.        Đông Hải đại vương Đoàn Thượng:

a.   Tự Đức năm thứ 6 ngày 14 tháng Giêng.

b.   Tự Đức năm thứ 33 ngày 24 tháng 11.

c.   Đồng Khánh năm thứ 2 ngày 1 tháng 10.

d.   Duy Tân năm thứ 3 ngày 11 tháng 8.

e.   Khải Định năm thứ 9 ngày 25 tháng 7

Lã Thượng Đẳng Thần.

 

3.        Đương Cảnh thổ đức linh ứng:

a.   Duy Tân năm thứ 7 ngày 1 tháng 10.

b.   Khải Định năm thứ 9 ngày 25 tháng 7

Tôn Thân

 

4.        Đương Cảnh Nguyễn thái giám:

a.   Khải Định năm thứ 2 ngày 18 tháng 3.

b.   Khải Định năm thứ 9 ngày 25 tháng 7.

Thượng Đẳng Thần.

 

5.        Liên Hoa Công Chúa tiên cung ngọc nữ:

a.   Duy Tân năm thứ 7 ngày 8 tháng 7.

b.   Khải Định năm thứ 9 ngày 15 tháng 1.

Trung Đẳng Thần.

 

6.        Quận chúa Ngô tộc:

a. Khải Định năm thứ 2 ngày 8 tháng 3.

b. Khải Định năm thứ 8 ngày 25 tháng 7.

Trung Đẳng Thần.

 

Tổng số sắc phong:

1.        Đông Bảng: 3 đạo.

2.        Đông Hải: 5 đạo.

3.        Đương Cảnh Thổ Đức: 2 đạo.

4.        Thái giám: 2 đạo.

5.        Liên Hoa Công Chúa: 2 đạo.

6.        Quận Chúa Ngô tộc: 2 đạo.

Tổng cộng: 16 đạo. Nay bảo tồn hết trong két sắt ở cung cấm Đình.

Tính từ khi có đạo sắc phong của Đông bảng năm Cảnh Hưng thứ 25 (năm 1470) thì Đình có tuổi = 2015-1764 = 545 năm.

Vậy làng Ô Lữ bây giờ chắc hẳn phải có từ đời Cảnh Hưng hoặc trước đó.

Trước kia, làng ở vườn Lựa, rồi đến khi trong họ Ngô, đời thứ 5, có cụ Ngô Phú Giao là thượng tướng coi Tứ thành Vương Phủ trấn Lạng Sơn, Thanh Hóa, Nghệ An. Quan địa phương xem phong thủy chuyển về đây như trên đã nói rất linh thiêng.

Về đường làng, đường đi trong làng và thổ hình toàn cục như sau:

Thứ nhất có con đường Cái Võng từ Ngô Khê về thôn Nội qua Phùng vào Bình Lục. Trước chưa có thôn Nội xen vào giữa thì Ô Mễ và làng ta liền thành một xã. Làng Nội từ Hà Nội chuyển về xen vào giữa thành ra Ô Mễ Thượng, Ô Mễ Hạ.

Con đường cái Nội (63) thời quan An Nam đắp chống lụt sông Hồng. Sau Pháp sang khai sông Sắt nên đường này không còn tác dụng.

Con đường Cái Võng hay Lạng Sòi qua Đình, Chùa làng vào huyện Bình Lục. Thời An Nam trước kia Bình Lục, Phủ Lý, Lý Nhân là một phủ Lý Nhân. Pháp sang cai trị mới chia ra. Đường võng xuống nên gọi là Cái Võng. Nhưng lũng võng quay về phía làng nên không được tốt.

  Đường Mo trên Nội xuống Đồng Xa, tục truyền đường này hay dùng để phơi mo cau. Đường từ đình vào làng gọi là đường Rặng Cau, trồng cau hai bên. Đường Con Voi là đầu làng, đầu con voi của xóm Nam Tịnh (voi) đi ra đống Lăng. Bên đường Con Voi có cánh Tiên Bồng và đống Ngô Công. Tục truyền rằng khi mới chuyển làng về đây, có một đêm thấy bóng các nàng tiên múa hát mới đặt tên là Tiên Bồng.

Cánh Nội cao có con đường Vạc xưa truyền lại, dân đã cấy lúa rồi nhưng đêm có nhiều vạc ăn đêm dẫm lúa nên các cụ đặt cho là đường Vạc.

Trong cánh Nội cao còn có thổ hình các con vật: đống Cái Chiêng, đống Cái Trống, đống Con Cua, đống Con Chó, đống Con Quạ, đống Đường Già, đống Đường Trưởng. Nay phá hủy mất một số đống.

(Mộ cụ Thủy Tổ Họ Hà táng ở đầu mỏm đống Con Quạ. Tức là mồm con quạ. Bởi vậy mà người ta nói người họ Hà "ăn to nói lớn". Dân làm ruộng vạc bờ dần dần làm đứt cổ con quạ (khoảng năm 2000). Đến khi họ Hà xây lại mộ Tổ thì cũng xây gạch hai bên cổ con quạ, rồi đắp bù đất lại như ngày nay.)

Cánh Nội  là cánh cao nhất của làng và Vườn Lựa xưa cấy mùa chỉ có hai cánh này được mùa mà thôi.

Đường từ đầu con voi ra ngã ba gốc gạo đi ra nghĩa trang bây giờ có hai đống lăng trong và ngoài hình hai con song mã, xưa để cả hung táng và cát táng.

Cạnh cánh Nội giáp đồng Vạc có Đinh Giác, do đời thứ tư Ngô tộc có Quận chúa mất, triều đình đưa về quê an táng, có mua đất thôn Nhân Dực, các quan đóng dinh làm lễ an táng cho Quận chúa. Quận chúa miếu hậu xã Đồn Xá, nay thôn Nhân Dực thờ ở Từ Vũ. Có bia công đức tại miếu thờ am mộ ngoài ở làng Ô Lữ, có tượng thờ ở Chùa, có hai đạo sắc. Cạnh đống lăng có đống Chiều Quýt con cá đầu và tám con tám đống theo sau chầu về cống lăng. Đình, Chùa, Phủ Mẫu đều nhìn về cống lăng.

(đoạn trên đây có một số từ ngữ không hiểu là gì, nên cháu không dám sửa. Trong sách này viết rất nhiều từ "cống lăng", vậy là "cống lăng" hay "đống lăng"?)

Từ tây làng có đống con Công và đống con Thỏ lên lò gạch xưa (lò gạch sau này mới có) đến đống cái Nghiên gọi là đường Mễ. Giữa đường Mễ có đống Mộ Cuội, có một hòn đá cuội rất to nhưng nay mất rồi.

Giữa đường Mễ một bên là cánh đồng khoai giáp cư Nhân Dực, một bên là cánh ao Ròn (Ròn cá).

Từ lò gạch có một đường cận đi về quán cây đa đôi giềng Cẽo của làng, hợp với đường Mãng và đường Đỗi vào làng bây giờ. Đường Mãng đi lên sông Bình bây giờ. Bên phải có đống Màu Mắt, có đống Lã Cỏ, bên trái có đống Sục Sạc họ Lưu để nhiều mồ mả ở đây. Có đường vườn Lựa cụt, có đống Nam Mô là nơi niệm Phật của làng cũ. Lùi về phía làng có đống mả Lau, có để mộ hai cụ họ Lưu là cụ Liễu Thân và cụ Liễu Ngu. Đến thời hợp tác xã mới chuyển về nghĩa trang là Tổ họ Lưu.

(đầu trang 4 viết là Liễu Thanh và Liễu Ngu, ở đây viết là Liễu Thân và Liễu Ngu)

Dưới mả lau có cánh đồng Đình đoán niệm trước đây làng cũ có đình ở đó nên mới gọi là đồng Đình, còn bên phải đường đôi bây giờ có cánh ao Ròn. Theo các cụ kể lại, hàng năm cánh này sâu nhất. Năm hạn hán cạn Ròn lại, cả làng ra đống bắt cá.

Đầu xóm Đông Kiều vào làng có một con ngòi từ đồng Móc thôn Bình ra cống cầu dưới bây giờ còn cống, qua ao Ròn, qua đồng Khoai sang giáp ngòi thôn Nhân Dực nay mất hết rồi.

Về đông bắc làng có đống Đồng Chôi, đống Dù, đống Mả Đĩnh chấn phương bắc cho làng. Đống Dù cốt đất tốt ngày xưa họ Ngô để mả nhiều nhất. Thời hợp tác xã các nơi đến lấy trộm đát về làm đồ gốm nên phá mất nhiều vì vậy ngày nay chỉ còn nhỏ thôi. Đống Mả Đĩnh truyền rằng Ngô thời phá tán tàu sang lấy của Việt Nam để vào đống đấy nên mới gọi là Mả Đĩnh (Đĩnh vàng, Đính bạc). Hồi Pháp thuộc năm 1943 có hai người Tàu sang bán thuốc ở và lấy mất vàng bạc đó chỉ còn vò vại để lại (họ có gia phả để lại).

Cánh đồng Xa có đống Mả Miền. Truyền rằng có ông huyện về đi quan vào huyện, qua đường cái Võng, các cụ họ Ngô giết chết lấy thẻ bài vào làm quan ba ngày ở huyện rồi bỏ trốn. Giữa cánh đồng Xa còn có đống Đường Dài, bên cạnh có đường thuyền rồng, sau chôn người hủi vào đó (Bắc địa kết).

Cạnh Chùa bây giờ có đống Quản Bút, thời hợp tác xã phá đi nay mới khôi phục lại. Còn Nghiên mãi trên lò gạch. Nghiên bút xa nhau nên văn chương kém. Giữa cánh Mả Mái có đống Thần Đồng nay phá hết. Cửa Đình có đống Ổ Gà, có nhiều mồ mả.

Theo phả của họ Ngô, chỗ đình chùa làm lên lưng con rùa vàng gọi là Kim Tinh Hiển Thánh. Phủ mẫu làm lên bầu đàn tỳ bà rất linh thiêng. Khi lễ bái có đàn sáo nhị là các vị tiên thánh giáng đàn chứng giám cho dân nên đời thứ tư họ Ngô có Quận chúa (con cụ làm quan chi Bính) được tuyển vào triều nuôi con vua phong tước Quận chúa có hai đạo sắc phong.

Đời thứ năm có cháu Quận chúa cũng chi Bính phả viết (chứ Nho cũ) Lê triều đặc tiên trấn quốc, thượng tướng quân trung, vũ sở biền sinh hợp thức cãi chung thủy mạnh cơ, quản đề lãnh binh, tứ thánh vương phủ, lịch sai tán tường Lạng Sơn sứ, kiêm phụng Nghệ An sứ chính hiệu bố chính châu đốc tốt, tam hiệu quan bính chính quản thủ hiệu hậu hùng cơ cai cơ quan kiêm Thanh Hóa trấn, hữu trấn cơ đô đốc phủ tả đô đốc, đồng chi huyện chuyền chung hầu Ngô Tướng công húy Giao Tự trung tín là người đem gỗ đầu tiên về làm đình làng.

Đời thứ năm, sáu, bảy họ Ngô vẫn có người làm quan. Qua hơn 500 năm, ông cha chúng ta của 13 dòng họ xây dựng cơ nghiệp thôn ấp. Trải qua bao thời kỳ chế độ đời nối đời xây dựng cho đến nay không thể kể hết được.

Ngày trước từ đầu năm đến cuối năm có nhiều lệ ngạch. Đầu năm rước kiệu, hội hè mở từ mùng ba đến mùng mười hát chèo, đấu võ, đấu gậy, đấu vật. Tháng 8 đua thuyền leo cầu phao, dệt vải thi, khung cửi mắc giữa ao.

Có lệ thường tam lềnh cốm. Khánh lão vào mùng 7 tháng giêng, nay chuyển sang mùng 4.

Cai quản trong làng có kỳ hào, kỳ mục. An ninh có trương tuần, tuần phục, có chú mõ giúp dân giao mõ cho cả làng phải nghe lệnh làng, ai cưỡng phải phạt. Trong làng cãi nhau, đánh nhau, cháy làng kêu làng đều phải tạ làng bằng giầu rượu. Đầu năm có lễ động thổ, khi lễ thánh ở đình xong trống làng động thổ. Nhà nào có trâu mắc ách ở sân nhà, ai có dụng cụ gì cầm dụng cụ đó động tay chân.

Tháng sau lệ lễ hạ điền, lễ tế Thần Nông xong ai được tuổi xuống đồng trước. Người xuống đồng vẫn mặc áo dài, khăn xếp, cầm một cây nêu, mấy nắm mạ, cây khoai nước một cái sâu bằng tre sâu mạ. Trẻ con té bùn, người cày, cấy càng đông càng tốt, bấy giờ dân mới được cấy. Ai cấy trước làng phạt. Đấy là phong tục thời xưa cho đến thời cách mạng 1945. Phong tục này rất hay, đó là văn hóa dân gian.

Sau cách mạng tháng 8 vẫn theo chế độ tư điền, thuế nông nghiệp vẫn lũy tiến, đóng góp nuôi quân đánh giặc, có trưởng thôn lãnh đạo.

Pháp thua, miền Bắc được giải phóng thực hiện giảm tô cải cách, lấy ruộng nhà giàu chia cho nhà nghèo theo nhân khẩu.

Đến năm 1959, thành lập tổ đổi công, tiền nong có tín dụng. Sau chính sách hợp tác xã Quyết Thắng, ba thôn Ỗ Lữ, Phùng, Bình có ban Quản trị, chủ nhiệm điều hành theo công lao động ăn chia. Thôn ta chia ra 4 đội. Sau đó Quyết Thắng hợp với An Bài thành An Thắng có 10 đội.

Sau đó hợp tác xã toàn xã chia ra làm 20 đội hợp tác xã Đồng Du nhưng thời kỳ này làm ăn thất bát, năng xuất tụt lùi. Sau nhờ nghị quyết của Đảng giao cho cá nhân sản xuất nên năng suất đi lên (1986 khoán 10). Sau đó chính thức giao cho cá nhân sở hữu (không có sở hữu, chỉ là quyền sử dụng đất). Cho đến năm 1993 ruộng đất không thay đổi, chết không lấy ra, đẻ thêm không chia thêm đến nay gọi là sổ đỏ, có quỹ đất chia cho dân làm nhà. Đến nay vẫn thuộc hợp tác xã Quyết Thắng 3 thôn. Sản xuất do dân làm mọi thứ, quản trị trưởng thôn lãnh đạo do trên chỉ xuống thi hành mọi việc.

Thôn Ô lữ ta hiện bây giờ đã có hơn 500 năm. Trải qua bao thời đại, bao chế độ, hình thái phong thủy cũng có chỗ hủy hoại nhưng đại bộ phận hình dung vẫn còn.

Làng ta ở vào chỗ địa linh nhân kiệt, nhưng vì sự thiếu hiểu biết của một số người đã hủy đi như đống Dù, quản Bút, Con Cá, Cái Nghiên, Con Cua, Cái Chiêng, Cái Trống bị phá mất.

Vừa qua phá hai đống Tam Thai, Cửa Đình, đào mương máng cắt long mạch từ trong làng đến ngoài đồng. Muốn phục hồi rất khó vì bây giờ đất công, đường đống thổ linh thuộc về cá nhân họ tự phá.

Trên đây tôi sưu tầm và chép theo sách vở lưu truyền và theo truyền khẩu nên chỉ được một phần nào thôi. Còn danh tích của các dòng họ xin cung cấp nhưng một là không có đầy đủ, hai là sợ tôi viết có sự sai lệch của các vị tiền bối họ xa xưa.

Nhưng thưa mọi người! Trước khi viết quyển phả làng này cũng có người nói: Ai mượn các ông viết? Nhưng bên cạnh đó có rất nhiều người muốn viết để biết gốc tích của làng từ xa xưa ra sao, nên tôi viết. Và đó cũng là ước vọng của tôi muốn lưu truyền lại một phần nào cho làng. Người không muốn tôi viết chỉ có ít thôi vì họ sợ tôi viết lên những điều kỵ sau đây:

1. Sợ nói lên sự ông cha họ xưa rước đạo Gia-Tô về định làm nhà thờ to nhất chiếm Đình, Chùa của làng. (Tại sao lại kỳ thị đạo Ky-tô? Phải chăng là do cộng sản bảo phải kỳ thị họ)

2. Ông cha xưa gây án với làng làm cho làng khốn khổ.

3. Sợ mọi người biết truyện ông cha xưa làm mất 50 mẫu ruộng về Cao Cái.

4. Sợ nói lên sự gây án gây thù họ nọ họ kia.

5. Sợ thời chống Pháp ông cha họ đầu hàng, đầu thú, chỉ điểm. (Trong "Đèn cù", Trần Đĩnh có viết lại một câu rất thật của Sáu Búa Lê Đức Thọ: "da thịt con người đâu phải là sắt đá, ai bị tra tấn mà chẳng khai, chỉ có là khai ít hay nhiều mà thôi.)

6. Sợ nói lên thời giảm tô cải cách ruộng đất, anh em con cháu tố nhau tàn nhẫn. (cái này cũng khó trách người dân, bởi vì do trình độ dân trí thấp nên "đám đông" bị Minh râu và cộng sản lợi dụng. Bọn chúng nhồi vào đầu họ "lòng căm thù" mà vốn trước không có. Khi trong đầu đã có "lòng căm thù", thì "đám đông" chỉ như một bày sói đói, lúc đó bọn cộng sản quăng miếng mồi ra là họ xâu xé thôi.)

7. Sợ viết lên thời gian gần đây một số cá nhân gây nhiều điều phiền phức trong thư nặc danh sáo lộn văn hóa dân làng.

KHÔNG KHÔNG KHÔNG

Không bao giờ tôi viết mặc dù 7 điều đã nói trên tôi biết hơn ai hết. Viết để làm gì? Oan gia cởi nó ra chứ thắt lại làm gì gây thêm oán thù hay sao. Mong mọi người yên tâm. Mà nhất là ai bảo ai mượn mà viết. Muốn mà bảo tôi viết tôi không viết cũng chẳng làm gì được tôi. Còn tôi viết sự tích của làng không động chạm đến quyền lợi của ai thì tôi cứ viết. Nhưng không bao giờ tôi viết 7 điều kỵ đó, ai đó yên tâm.

Mong ai đừng có hiểu lầm

Mà mang cái tội với dân muôn đời.

SAU ĐÂY LÀ SỐ NÓC NHÀ TRƯỚC CÁCH MẠNG CỦA LÀNG

1. Xóm Đông Kiều có 28 nóc

2. Xóm Thọ Xương có 27 nóc

3. Xóm Tây Tự có 18 nóc

4. Xóm Nam Tịnh có 34 nóc

Cộng cả làng có 107 nóc

Chỉ có 3 nhà ngói và 3 nhà thờ lọp ngói còn lại lợp lá gồi và rạ.

Cả làng không có một xe đạp nào, tất cả đều thô sơ, con trâu đi trước cái cày theo sau là chính. Cả làng chỉ có cánh Nội và Vườn Lựa bấp bênh hai lần lụt. Các cụ đánh dấu vào cột đình năm cao nhất là 80 cm, năm thấp nhất là 40 cm, hiện nay vẫn còn dấu ở cột đình.

Sau đây là công từ ông tự. Các họ đã ra trông nom Đình, Chùa, Phủ mẫu.

1. Họ Lưu: Cụ Từ Duyên từ bi sư già nhà cụ xã Choan, từ bốc bà Lịch họ Ngô dâu họ Lưu.

2. Họ Nguyễn: Từ Xuyết, từ Cừ đồng khục.

3. Họ Ngô: Cụ từ Hiên đồng cam tự Quyết. Từ tự đồng Ngô Xung Kỳ từ 6/2/1988 tức năm Mậu Thìn đến nay (2015).

4. Họ Vũ: Cụ từ Thuần, từ Nhẫn.

5. Họ Trần: Từ Thạp, từ Lạp.

6. Họ Hà: Cụ từ Rực, từ Tẫn, từ Phi, Đồng Hổn (theo phả họ Hà, đời thứ 3 có cụ Hà Hữu Dực, không có Rực. Đời thứ tư, có Hà Văn Tẫn. Cũng đời thứ tư, có Hà Hữu Phi. Đời thứ 5 có Hà Văn Hỗn, không có Hổn.)

7. Họ Lã: ông Đồng Triển.

Chùa

Trước kia sư già 9 Người (nhà cụ Choan) sau ống thống chùa người Phúc Châu cách mạng thành công về quê.

Phủ

Xưa kia có ông tự Bỗng sau về quê. Trải qua các thời kỳ. Qua các vị nói trên, người nọ thay người kia, không có sư.

Cuối cùng ông từ Bốc (lúc này cả ba nơi). Ông Bốc chết giao sanh ông Thạp. Năm Mậu Thìn 1988 sửa sang Đình làng giao ông Thạp coi chùa, ông Kỳ Đình, Phủ Mẫu. Ống Thạp chết giao bà Lịch. Bà Lịch chết giao ông Kỳ trông nom lễ bái cả ba nơi cho đến ngày nay (2015 - Ất Mùi)


PHẦN 3: ĐÌNH, CHÙA, PHỦ QUÁ KHỨ VÀ HIỆN TẠI

Thứ nhất nói về Đình, Chùa, Phủ Mẫu hình thành từ xa xưa cho đến bây giờ. Khi chuyển làng từ vườn Lựa về định làm chỗ giáp vào làng nhưng không đắc địa. Thổ định làm thời Pháp thuộc ghi vào bản đồ số 9, số thửa 1628 (ruộng nền đình). Sau xem phong thủy tiến lên phía tây làng. Đầu tiên thờ dọc, quay tây bắc. Đình phía trên. Chùa lùi phía dưới sau Nghè thờ Mẫu đều thờ dọc (khi làm chùa mới khai thác cào móng cũ). Hướng này nghịch quá nên các cụ quay hướng Nam làm Đình trước giáp rạch Đình, cao hơn chùa. Chùa làm lùi sau Đình một khoảng đều thờ dọc.

Nghè thờ mẫu trước ở chỗ đài liệt sỹ bây giờ. Đến năm Đinh Tỵ 1917, các cụ khênh chuyển sang đất Phủ Mẫu. Qua rạch đình các cụ kể lại phải lót rơm đầy rạch đình khênh nghè sang và làm lên cái bầu đàn tỳ bà cúng thờ dọc. Sau Đình, Chùa và Phủ Mẫu có một mảnh ruộng để cấy nay lấp hết rồi. Chung quanh có trồng tre gai bảo vệ.

Trước đình chùa có 1 ao sen, giữa đình phủ có một rạch nước có cống sang ao sen. Trước ao sen có 3 đống tam thai, giữa đống to, hai đống hai bên nhỏ. Cạnh Đình Chùa có một giếng tròn là một trong 9 cái giếng của làng.

Trước  cửa nhà tổ xây văn chỉ thờ Khổng Tử và Phục Hy Thần Nông. Trước cửa phủ có 3 gian tảo sá là nơi sửa lễ. Có đất cho ông Đồng làm nhà cả vợ con ở. Ông đồng Triển họ Lã là người làm nhà ở cuối cùng.

(ở trang 6 ghi là Phụng Hy Thần Nông, ở đây ghi là Phục Hy Thần Nông)

Qua đường khu cây đa bây giờ có đất cho chú Mõ làm nhà cả vợ con ở. Đến cách mạng tháng 8 thành công, chú Ngát là người ở cuối cùng về quê Chợ Rằm.

Chung quanh đình chùa phủ có nhiều cây đa cổ thụ cao 4~5m, sáu bẩy người ôm mới xuể.

Phía sau Đình, Chùa có đống Quản Bút, thời hợp tác xã phá mất, nay mới khôi phục.

Khi Đình Chùa quay về tây nam thì con đường từ làng ra đường cái ra huyện xuyên tâm giữa hồ sen và Đình, Chùa. Các cụ xưa đã định chuyển con đường này ra ngoài hồ sen nhưng không có điều kiện. Đến năm 2013 đã đắp đường đi ra ngoài, nhưng Ngô Phú Vân thuê đào, đào đi không làm mà còn đào cả hai đống tam thai hai bên ao sen.

Tóm lại: Đình, Chùa, Phủ Mẫu đóng một hướng tây nam đều thờ dọc nhìn thẳng cống lăng.

Bên phải có đường từ phủ mẫu là địa giới Thanh Khê (Hữu Bạch Hổ ngắn). Tả có đường từ đình chùa lên làng cũ dài (Tả Thanh Long dài) đắc địa. Tiền có Chu Tước, hậu có Huyền Vũ, quá đắc địa.

Nói về phụng thờ của các cụ từ xa xưa cho đến nay:

Thứ nhất, Chùa có 5 gian: 3 gian công đồng, hai gian cung cấm, có bệ gỗ thờ Phật cao nhất tòa tam thế. Truyền lại năm lụt lội trôi đến chùa ta một tòa (nay Ngô Phú Vân để vào mật thất khóa lại không cho ai đến thắp hương). Sau các bậc dưới Thế chi Di Đà dẫn lộ thánh tăng thổ địa. Dưới cuối cùng tòa cửu long, nay cũng ở trong mật thất, có một bát hương công đồng tam bảo. Bên phải chùa thờ đức chúa, sau đức chúa có ảnh Quan âm thị Kính.

(Quan Âm Bồ Tát hay Quan Âm Thị Kính? Quan Âm Bồ Tát là người Tàu, Quan Âm Thị Kính là người Việt.)

Bên trái Chùa, Tam vị Thánh Hiền, có tượng Quận chúa Ngô tộc có 2 đạo sắc, giỗ ngày mồng 3 tháng 6 hàng năm, nay vẫn duy trì cúng cơm canh.

Trước tiền diện chùa xây cột đồng trụ có khung ảnh ghép ba chữ Phúc Lâm Tự (.............................) bằng mảnh sứ ghép lại.

*Chùa trước kia ngang dọc như sau: Bằng gỗ lim, cột trong, tường ngoài. Tổng chiều dài 11m80. Ngang 6m50. Cao cột con là 2m80. Có 4 cánh cửa giữa. Hai bên hai cánh. Gian đầu có hai cửa sóc Đông Tây. Nền lát gạch thất cổ. Trên nóc khi rỡ ra làm Chùa mới có ghi: ‘‘ung tu Tự Đức năm thứ 13” lợp ngói Nam cũ. (từ "ung tu" nghĩa là gì?)

*Đình xưa:  Có 7 gian ngoài, 2 gian hậu cung đều bằng gỗ lim, hậu cung trạm trổ rất đẹp. Năm 1957, làng bán hậu cung cho họ Lưu làm nhà thờ lấy tiền chữa hai gian ngoài cùng.

Xưa cung cấm có 4 cờ ngai:

1. Thờ Đông Bảng đại vương, có 3 đạo sắc phong thần.

2. Đông Hải đại vương (Đoàn Thượng) có 5 đạo sắc phong còn đủ.

3. Đương Cảnh Thổ Đức tôn thần có 2 đạo sắc phong.

4. Đương Cảnh Nguyễn Thái Giám có 2 đạo sắc phong.

5. Nay thêm cờ ngai Đương Cảnh thành hoàng Ngô tướng công được phong Thành Hoàng làng.

Năm gian ngoài, hai bên tả hữu xây bệ phân chia phe giáp. Ngồi tế lễ, việc làng chiều ngang có 4 hàng cột. Cột nào cũng có câu đối, 3 mặt châu đầu xà nách nào cũng có hoành phi rất hoành tráng lộng lẫy. Có hai cỗ kiệu song hành bát cống, bát biểu cờ, tàn, tán lọng, thập bát binh khí, áo bào áo nậu của phu kiệu. Nhưng kháng chiến chống Pháp, đem cúng mùa đông chiến sỹ, giặc pháp đóng đồn bốt An Bài lấy hoành phi câu dối. Còn lại bao nhiêu thời hợp tác xã phá làm nông cụ hết. Nay chỉ còn lại được 2 hoành phi cổ do ông Lâu, ông Kỳ giữ lại. Một bức "Kim Tinh Hiền Thánh". Một bức "công đức nguy nga".

Ngày trước lòng đình 12m, gian đình 4m. Ngoài cửa đình có tòa chè theo kiểu lâu đài do cụ Hậu Tế người họ Lưu tiến nay vẫn giữ nguyên. Cụ mua Hậu mới gọi Hậu Tế, cụ không có con. Giữa có 4 chữ: Khí tiết Lăng Sường.

Năm mậu thìn 1988, 5 gian sụp đổ, dân làng họp bàn, sửa chữa cùng bà con xa quê chỉ sửa được 2 gian và một cung cấm. Lòng Đình thu hẹp mỗi bên một mét.

Đình sửa chữa từ năm 1988 đến nay không thay đổi gì. Duy chỉ có thêm cỗ ngai Thành Hoàng đại vương Ngô tướng công, do cụ có công đem gỗ về làm Đình nên được hưởng Thành Hoàng.

Thời vua Tự Đức, thời sát Gia-Tô, đạo Thiên Chúa định làm nhà thờ đạo (địa linh) to nhất tỉnh Hà Nam nhưng cụ Ngô Đình Liễu làm Lý trưởng tiếc công tiến tổ không cho làm. Pháp bắt cụ đi đày ngoài Hồng Gai nay không tìm thấy mộ cụ.

*Phủ Mẫu xưa:

Trước kia chỉ là Nghè nhỏ làm chỗ đài liệt sỹ bây giờ. Tương truyền Ngô tướng công chở gỗ cho nhà vua xây dựng cung điện, chẳng may bão táp vỡ bè gỗ. Gặp lúc nguy, Ngô tướng công khấn: "Vị nào linh ứng thu được gỗ cho nhà vua, ta sẽ về quê hương lập miếu thờ". Quả nhiên có linh ứng đức Tiên Cung Ngọc Nữ phù hộ. Ngô tướng công thu lại đủ số gỗ bị mất. Nhớ ơn đức Tiên Cung Ngọc Nữ, Ngô tướng công về làng lập Nghè thờ. Có 2 đạo sắc phong.

Đến năm 1917, các cụ trong làng xem phong thủy chỗ thờ Mẫu bây giờ nó là cái bầu đàn tỳ bà. Nên dựng Phủ gồm 4 gian gỗ lim: 1 gian cung cấm, 3 gian công đồng. Tượng thì chỉ có 1 tượng Tiên cung Ngọc Nữ sau thêm 2 Cô.

Xưa kia thường lễ bái con nhang thành đồng hầu bóng (vui vẻ). Giữa thờ Công đồng Tứ phủ. Cung cấm có tượng Tiên Cung Ngọc Nữ, hai bên tả hữu có kệ thờ bát hương bản mệnh con nhang. Sau này đông quá chỉ tôn công đồng không thờ bát.

Đến năm 2010-2011, Ngô Phú Vân phá đi làm lại như bây giờ. Hướng vẫn theo hướng cũ, làm cửu giác (9 cạnh), 3 tầng mái, 3x9=27 mái. Đao rồng có đôi rồng chầu mặt nguyệt bao ngoài, xây dựng bằng bê tông, duy có 3 bộ cửa bằng gỗ lim. Trong điện sáng có 3 bệ, 1 bệ giữa, 2 bệ hai bên.

Bệ giữa có khám thờ Tiên Cung Ngọc Nữ và đôi Cô. Đền tam vị Thánh mẫu, ngũ vị tôn ông, tam vị Quan Hoàng, dưới là Ban ngũ Linh.

Tả ban thờ Trần Triều hiển thánh Hưng Đạo Đại Vương có tượng. Hữu ban thờ Ngọc Hoàng Thượng đế, một bên Bắc Đẩu, một bên Nam Tào.

Hai bên tả, hữu có hai hộ pháp.

Trước cửa Mẫu có động Sơn Trang. Có tượng Thượng Ngàn Thánh Mẫu, 12 Cô Sơn Trang. Tượng các chầu một bên động Cô, có tượng Cô. Một bên động Cậu có tượng Cậu. Giữa có ban Ngũ linh tượng sứ.

Ngoài sân có tượng Địa Mẫu cầm tịnh bình tưới nước cứu ngũ cốc trần gian. Có ban thờ Bán Thiên Mão Dậu công chúa, có voi phục, hổ chầu, có đôi ngựa hồng bạch. Có động đá dưới suối nước.

Giếng đình có đôi rồng chầu phun nước, có tượng đá quan âm cầm tịnh bình.

*Chùa ngày nay:

Chùa mới không lấy thứ gì của Chùa cũ. Chùa mới xây bốn hướng đông tây nam bắc. Thực tế là tây nam, tây bắc, đông nam, đông bắc. Bốn bề như nhau, xây hai tầng 8 mái. Bê tông hoàn toàn, sơn giả gỗ. Trong chùa có 4 cột cái. Giữa có bệ thờ 4 hướng, 3 bậc bệ. Bốn bức cửa võng bằng gỗ, 4 hướng chạm 2 mặt. Mỗi bức cửa võng có 94 pho tượng chạm nổi.

Giữa trung tâm có cột kinh bằng vải, có lọng ở giữa. Cửa ra vào 4 hướng có cửa gỗ ở giữa, 2 cửa giả hai bên. Duy có cửa hướng tây nam đủ ba tường gỗ.

Chính hướng tây nam có tượng Di Đà, sau có lá đề bằng đồng. Tượng nặng 2 tấn, lá đề 8 tạ. Bệ thứ 2 có 2 tượng gỗ Bồ Tát Quan Âm do con cháu cụ Cả Nam tiến cúng.

Cửa tây bắc, trên có Quan Âm Bồ Tát bằng đồng mạ vàng đúc ở Đài Loan đưa về, bậc thứ 2 có Kim Đồng Ngọc Nữ đúc ở Ý Yên.

Hướng đông bắc, trên thờ phật Thích Ca Mâu Ni, tượng đồng mạ vàng đúc ở Đài Loan. Hai bên có tượng A Nan Ca Diếp bằng đồng đúc ở Ý Yên.

Hướng đông nam thờ tượng Di Lặc Tôn Phật, đằng sau có lá đề bằng đồng do Nguyễn Ngọc Cương tiến cúng.

Bốn gác bốn hướng có bốn vị thiên vương cầm binh khí chấn.

Ở giữa bệ có mật thất, có 4 cửa bằng gỗ. Bên trong, hiện tại, để hai tòa tam thể của Chùa cũ, là tượng Thế chí tòa Cửu Long có sá lị đo hòa thượng Mi A Ma tiến cúng.

Vào Chùa đi từ cửa tây nam đi vào, tay phải có tủ kinh, đến tượng Đức Ông của Chùa cũ bằng gỗ tốt, đến tượng Thánh tăng của Chùa cũ, đến tượng Quận chúa Ngộ Tộc. Tiếp sang tường bắc có tượng Dược Sư, Văn Thù Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, đến Địa Tạng bồ tát, tượng bằng gỗ mới.

Cửa tây bắc: Thổ địa, đến tam vị Thánh Hiền tượng của Chùa cũ đều bằng gỗ tốt.

Tóm lại trong quyển phả làng này gồm mấy phần:

1. Làng có từ thời Liễu Thăng sang ta cai trị là làng ở vườn Lựa. Đền thời Cảnh Hưng năm thứ 15, làng chuyển về vị trí như bây giờ. Đình, Chùa, Phủ Mẫu có theo sắc phong của Đức Đông Bảng 1470, đến nay là 545 năm (tuổi Đình=545).

Trước thời gian này theo phả họ Ngô, đời thứ tư có Quận Chúa Lê triều phong tặng thì trước 3 đời họ Ngô vào khoảng 100 năm nữa tuổi làng = 100 + 545 = 645 năm.

(Ở đây tác giả có nhầm lẫn. Cuối trang 3, tác giả viết Liễu Thăng sang cai trị năm 1420, họ Ngô và họ Lưu xuất hiện ở làng. Vậy họ Ngô làng Ô Lữ có tuổi là 2016-1420 = 596 năm, không phải 645 năm. Tuy nhiên, trước họ Ngô, có họ Lã đã lập làng, vậy tuổi của làng nhiều hơn 596 năm (tính đến năm 2016).

2. Phần thứ hai là sự hình thành làng, Phong thủy của làng, địa dư hành chính, qua các thời đại cũng có thay đổi từ làng Lựa (Làng cũ ở Vườn Lựa), ông Lã, làng Lứa Ô Mễ Hạ, rồi cuối cùng là làng Ô Lữ ngày nay.

Về dân số thì cũng thay đổi. Trong làng là nơi chiêm trũng, dân số đông, ít ruộng nên nhiều gia đình của các họ đi khai cơ lập nghiệp các nơi. Nếu gồm cả số dân đi xa cộng lại thì cũng phải có mấy nghìn người. Dân  làng đi cả thành thị, đi cả nông thôn. Như họ Ngô, một ngành lên xã Tiên Tân lập nghiệp, vừa qua về nhận họ. Số nhân khẩu khoảng 500 khẩu. Còn một ngành nữa ở Hải Dương cũng rất đông.

3. Phần thứ 3 nói về phong tục, thổ hình Đình, Chùa, Phủ. Thổ hình từ trong làng ra ngoài đồng, làng ta có thổ hình của các linh vật như: Võng, Dù, Cờ, Trống, Chiêng, Thuyền Rồng, Tiên Bồng, Con Công, Con Voi, Con Cá, Con Cua, Cái Nghiên, Cái Bút, Thần Đồng, Ổ Gà và còn nhiều thứ nữa rất phong phú, tôi chỉ nhớ và viết đến thế này thôi.

Sau đây, tôi tự thuật từ ngày 6 tháng 2 năm Mậu Thìn (1988) cho đến ngày hôm nay tháng 8 năm Ất Mùi (2015). Tôi là trưởng Ban kiến thiết của làng, gồm có 20 người, có nam, có nữ, có già, có trẻ, có đảng viên, có người về hưu (có danh sách ở quyển nhật ký chùa đình)

Sau khi sửa Đình xong yên vị 3 nơi, làng giao cho ông Thạp coi chùa, tôi coi Đình và Phủ mẫu. Sau khi ông Thạp mất giao cho bà Lịch coi chùa, bà Lịch mất giao cho tôi thủ nhang cả 3 nơi. Từ đó đến bây giờ là 29 năm. (từ 1988 đến 2015 là 27 năm)

Năm nay là năm Bính Thân (2016) (chờ tôi viết thêm mà năm làm lễ kỷ niệm 30 năm, tính trước 1 năm). Nếu năm Bính Thân là năm 29 x12=348 tháng. 29 năm có 10 năm nhuận 10 tháng nên 348+10=358 tháng. Từ tháng 2 Mậu Thìn (1988) đến tháng 4 Bính Thân (2016), 2 tháng nữa là = 360 tháng bằng 30 năm . Ý định của tôi là ngày mùng 2/4 năm Bính Thân, tức ngày 18 tháng 5 năm 2016, tôi tổ chức lễ Phật, Mẫu, Thánh Thần, mừng công 30 năm bên viết chỗ này trước 1 năm.

Trải qua bao năm tháng hầu Phật, Mẫu, Thánh Thần, sưu tầm sách vở lễ bái, bới đất nhặt cỏ, trồng cây, rào giậu. Tôi đã trồng hàng giậu ruối uốn hai con rồng chầu mặt nguyệt. Đến năm 2003 phá đi xây cổng bây giờ. Chung quanh Đình, Chùa, 2 góc gạch vỡ bẩn thỉu lầy lội, đường ngang ngõ tắt, thu dọn sạch sẽ. Sạch có tỏ hương thu hút khách thập phương xa gần lễ bái sầm uất. 30 năm gắn bó cửa Phật, Mẫu, Thánh Thần là chính, ít khi về nhà. 30 năm tôi ở nhà không được 3 tháng. Trồng cây lưu niệm tới nay có hàng trăm cây. Cây xoài to nhất tới nay 30 năm, cây mít to nhất tới nay là 25 năm. Đến năm làm Chùa chặt 6 cây cam, 4 cây nhãn, 4 cây vải thiều, 2 cây xoài.

Đến nay, xoài có 10 cây, nhãn có 15 cây, vải thiều 4 cây, bưởi 5 cây, mít 7 cây, roi 1 cây. Tre trúc nhiều khóm bụi.

Trông ao sen. Từ xưa gọi là ao sen nhưng chẳng có sen bao giờ. Mãi tới năm Kỷ Tỵ (1989) mới xin giống về trồng nay mới có sen. Tu bổ bộ rễ đa cửa phủ. Trông ba cây đa gốc gạo lối ra lăng, cây bàng nhà văn hóa.

Trong 30 năm này tôi làm nhiều lần trưởng ban. Đổ bê tông đường làng lần thứ nhất, đi các nơi xin tiền cho làng hàng chục triệu đồng.

Đổ bê tông lần thứ 2, cán bộ không nhận, làm trưởng ban còn ủng hộ làng 20 triệu đồng. Trong khi đó mỗi khẩu chỉ có 50.000đồng.

Tôi còn làm trong BCH Người cao tuổi của xã, làm chi hội trưởng của chi hội thôn. Mua sắm chõ to, chõ con, nồi xoong bát đĩa thời kỳ khó khăn giao thời. Vậy mà vẫn bị kẻ xấu viết thư nặc danh chửi tôi mê tín dị đoan, "làm bếp dễ ăn vụng". Tôi làm bếp, xong các cụ người cao tuổi đun đầu tiên. Làm nhà sửa lễ 4 gian, làm chùa phá đi, bếp phá đi đều do tôi bỏ tiền túi ra sửa.

Tất cả 30 năm vun quén nơi thần tứ Phật tự, tứ thời bát tiết, tiếp đón bà con xa quê cũng như thập phương lễ bái sầm uất.

Tôi gửi thư đi các nơi quyên cúng sửa chữa Đình, Chùa.

Thời ban đầu chưa có phong trào như bây giờ, nay gọi lên xã, mai vào huyện. Nhưng tôi vẫn quyết tâm không chán nản, quyết vì sự nghiệp dân làng tín nhiệm giao cho. Biết bao công lao vì sự nghiệp tâm linh. Điều này chỉ có Phật Mẫu, Thánh Thần rõ nhất vì việc gì tôi làm các ngài đều biết hết.

30 năm chuyển chỗ ở đến chỗ bây giờ là chỗ thứ 5 đều do tôi bỏ kinh phí ra xây dựng từ năm 2011. Gạch, cát, xi măng, vật liệu đều mua của Trần Văn Hanh, có chứng từ người xây dựng. Có các Cường, Thu, Toàn, Tuyến, Tuấn, Hoan, Hùng ở Phùng, Kha, Tuyến... Cửa kính, cửa gỗ, tủ tôn, Quỳnh Hoa con bác Lộc Xuyên mộc ở hà Nội, Minh con bác Dung. Các đồ điện mua của Sơn Phượng thôn Ngoại. Bảy chiếc tủ, các tủ gia dụng sinh hoạt đều do tôi bỏ tiền ra mua.

Tóm lại chỗ tôi ở bây giờ (năm Bính Thân 2016) tổng thể là khoảng 250 triệu đồng. Tôi viết đoạn này vào dịp đang còn minh mẫn. Một năm vào Nam hai lần. Hôm nay tháng 4 năm Bính Thân 2016. (còn chưa tới tháng 3) Tôi viết khi sau này tôi trăm tuổi về già đi hầu Phật, Mẫu, Thánh Thần, thì chỗ này đây xin để lại đừng ai phá phách di chuyển. Nếu ai có căn quả, có duyên với nơi đây thì cứ việc ở không sao hết vì chỗ này thuận lợi cả âm dương. Nhưng nếu ai cố tình mà phá đi thì tôi có một lời nguyền con cháu người đó đời đời tàn lụi, rủi ro.

Tôi viết đến đây xin dừng, mong các vị tu chỉnh cho đẹp và hay.

Ô Lữ, ngày 22 tháng 11 năm Ất Mùi (2015)

Tức ngày 1 tháng 1 năm 2016

Bút tích người viết phả làng

Ngô Xung Kỳ

Bình luận ( 0 )
PHẢ LÀNG Ô LỮ 30/04 2025 09:05, xem:541
TÀI LIỆU LƯU TRỮ THÔN Ô LỮ PHÚC LÂM TỰ - PHÚC LINH TỪ ...
Tên làng Hà Nam 30/04 2025 09:03, xem:769
Đình làng Ô Lữ 30/04 2025 09:01, xem:733
Quê Hương 29/04 2025 12:24, xem:446
HÀ gia tộc - LỜI NÓI ĐẦU 28/04 2025 23:52, xem:375
PHẢ LÀNG Ô LỮ 30/04 2025 09:05, xem:540
Tên làng Hà Nam 30/04 2025 09:03, xem:769
Đình làng Ô Lữ 30/04 2025 09:01, xem:733
.